Physics

Viết bởi

trong

Standing on the shoulders of a giant.

David Serway, son of one of the authors, watches over two of his children, Nathan and Kaitlyn, as they frolic in the arms of Albert Einstein’s statue at the Einstein memorial in Washington, D.C.

It is well known that Einstein, the principal architect of relativity, was very fond of children. (Emily Serway)
Đứng trên vai một người khổng lồ.

David Serway, con trai của một trong những tác giả, đang trông chừng hai đứa con của mình là Nathan và Kaitlyn khi chúng nô đùa trong vòng tay bức tượng Albert Einstein tại đài tưởng niệm Einstein ở Washington, D.C.

Ai cũng biết rằng Einstein, người đặt nền móng chính cho thuyết tương đối, vốn rất yêu quý trẻ thơ. (Emily Serway)
EnglishTiếng Việt
Example 6.3: What Is the Maximum Speed of the Car?Ví dụ 6.3: Tốc độ tối đa của ô tô là bao nhiêu?
A 1 500-kg car moving on a flat, horizontal road negotiates a curve as shown in Figure 6.4a. If the radius of the curve is 35.0 m and the coefficient of static friction between the tires and dry pavement is 0.523, find the maximum speed the car can have and still make the turn successfully.Một ô tô khối lượng 1 500 kg chạy trên đường nằm ngang, bằng phẳng, đang vào một khúc cua như trong Hình 6.4a. Nếu bán kính khúc cua là 35,0 m và hệ số ma sát nghỉ giữa lốp xe và mặt đường khô là 0,523, hãy tìm tốc độ tối đa mà ô tô có thể đạt được mà vẫn vào cua thành công.
SOLUTIONLỜI GIẢI
Conceptualize Imagine that the curved roadway is part of a large circle so that the car is moving in a circular path.Hình dung Hãy tưởng tượng đoạn đường cong là một phần của một đường tròn lớn, sao cho ô tô chuyển động theo quỹ đạo tròn.
Categorize Based on the Conceptualize step of the problem, we model the car as a particle in uniform circular motion in the horizontal direction. The car is not accelerating vertically, so it is modeled as a particle in equilibrium in the vertical direction.Phân loại Dựa vào bước Hình dung, ta mô hình hóa ô tô như một chất điểm chuyển động tròn đều theo phương ngang. Ô tô không có gia tốc theo phương thẳng đứng, nên được mô hình hóa như một chất điểm cân bằng theo phương thẳng đứng.
Analyze Figure 6.4b shows the forces on the car. The force that enables the car to remain in its circular path is the force of static friction.Phân tích Hình 6.4b biểu diễn các lực tác dụng lên ô tô. Lực giúp ô tô giữ được quỹ đạo tròn là lực ma sát nghỉ.
(It is static because no slipping occurs at the point of contact between road and tires. If this force of static friction were zero—for example, if the car were on an icy road—the car would continue in a straight line and slide off the curved road.)(Đó là ma sát nghỉ vì không có sự trượt tại điểm tiếp xúc giữa mặt đường và lốp xe. Nếu lực ma sát nghỉ này bằng không, chẳng hạn khi ô tô chạy trên đường đóng băng, ô tô sẽ tiếp tục đi thẳng và trượt khỏi đoạn đường cong.)
The maximum speed vmax the car can have around the curve is the speed at which it is on the verge of skidding outward. At this point, the friction force has its maximum value fs,max = μsn.Tốc độ tối đa vmax mà ô tô có thể có khi vào cua là tốc độ mà tại đó xe sắp bị trượt ra phía ngoài. Tại thời điểm này, lực ma sát đạt giá trị cực đại fs,max = μsn.
Figure 6.4 (Example 6.3) (a) The force of static friction directed toward the center of the curve keeps the car moving in a circular path. (b) The forces acting on the car.Hình 6.4 (Ví dụ 6.3) (a) Lực ma sát nghỉ hướng vào tâm của khúc cua giữ cho ô tô chuyển động theo quỹ đạo tròn. (b) Các lực tác dụng lên ô tô.
continued(còn tiếp)

Chú thích trong Hình 6.4b: n là phản lực pháp tuyến, m g là trọng lực, fs là lực ma sát nghỉ.


Sales Tax (Thuế bán hàng), VAT (Thuế giá trị gia tăng) và GST (Thuế hàng hóa và dịch vụ) đều là thuế gián thu đánh trên việc tiêu dùng, nhưng chúng có cơ chế vận hành và phạm vi áp dụng hoàn toàn khác nhau.

Dưới đây là bảng so sánh trực quan để bạn dễ dàng phân biệt:

Tiêu chíSales Tax (Thuế bán hàng)VAT (Value Added Tax)GST (Goods and Services Tax)
Bản chấtChỉ thu một lần duy nhất tại giai đoạn bán lẻ cuối cùng cho người tiêu dùng.Thu trên phần giá trị tăng thêm ở mọi giai đoạn (sản xuất, bán buôn, bán lẻ).Về bản chất giống hệt VAT, nhưng thường gộp chung cả hàng hóa và dịch vụ vào một hệ thống thống nhất.
Cơ chế thu• Người bán lẻ thu từ người tiêu dùng.
• Doanh nghiệp ở khâu trung gian (sản xuất, sỉ) được miễn thuế nếu có chứng chỉ miễn thuế.
• Thu ở mọi khâu.
• Sử dụng cơ chế khấu trừ thuế (Thuế đầu ra – Thuế đầu vào).
• Thu ở mọi khâu.
• Tương tự VAT, áp dụng cơ chế khấu trừ đầu vào.
Quản lý thu thuếThường do chính quyền địa phương / bang quy định (Ví dụ: tại Mỹ, mỗi bang/thành phố có mức thuế khác nhau).Thường do chính phủ quốc gia / trung ương quản lý và áp dụng đồng nhất (Ví dụ: tại Việt Nam, Châu Âu).Thường do chính phủ trung ương (hoặc mô hình kép trung ương + bang như Ấn Độ, Canada) quản lý.
Tác động dòng tiền doanh nghiệpDoanh nghiệp trung gian không phải trả hay ứng trước thuế, không ảnh hưởng dòng tiền.Doanh nghiệp phải ứng tiền trả thuế đầu vào khi mua hàng, sau đó mới được khấu trừ hoặc hoàn lại.Tương tự VAT, doanh nghiệp phải quản lý dòng tiền cho cả thuế đầu vào và đầu ra.

Tóm tắt cốt lõi để ghi nhớ:

  • Sales Tax: Chỉ đánh vào khâu cuối cùng. Điển hình nhất là tại Mỹ.
  • VAT: Đánh vào mọi khâu, tính trên giá trị tăng thêm. Điển hình là tại Việt Nam và các nước Châu Âu.
  • GST: Là “anh em song sinh” của VAT nhưng có tên gọi khác và thường ra đời sau để thay thế cho các hệ thống thuế phức tạp cũ. Điển hình tại Úc, Canada, Singapore, Ấn Độ.

Để giúp bạn hiểu sâu hơn, bạn có muốn xem ví dụ bằng số cụ thể về cách tính và luân chuyển dòng tiền của 3 loại thuế này từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng không?


Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thêm bài viết