“Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.” Nguồn: Nghị định 253/2026/NĐ-CP
Quy định trên có thể hiểu đơn giản như sau:
- Nếu trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng, thì bên chi trả bắt buộc khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi trả tiền.
- Nếu trả dưới 5 triệu đồng/lần, thì không bắt buộc khấu trừ, nhưng nếu người nhận thu nhập yêu cầu thì bên trả thu nhập vẫn có thể khấu trừ 10%.
Dưới đây là một số ví dụ minh họa.
Ví dụ 1: Trả từ 5 triệu đồng/lần (bắt buộc khấu trừ)
Công ty A thuê anh Nam thiết kế logo trong 2 tuần, không ký hợp đồng lao động.
- Tiền công: 8.000.000 đồng
- Vì mức chi trả ≥ 5.000.000 đồng/lần, công ty phải khấu trừ:
Thuế TNCN = 8.000.000 × 10% = 800.000 đồng
Công ty trả thực nhận cho anh Nam:
8.000.000 − 800.000 = 7.200.000 đồng
Sau đó công ty nộp 800.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
Ví dụ 2: Hợp đồng lao động dưới 3 tháng
Công ty B ký hợp đồng thời vụ với chị Lan trong 2 tháng.
- Tiền lương tháng đầu: 6.000.000 đồng
Vì:
- Hợp đồng dưới 3 tháng.
- Mỗi lần trả lương là 6 triệu đồng (>5 triệu).
Nên công ty phải khấu trừ:
6.000.000 × 10% = 600.000 đồng
Chị Lan nhận:
5.400.000 đồng
Ví dụ 3: Trả dưới 5 triệu đồng/lần (không bắt buộc khấu trừ)
Công ty C thuê anh Bình dịch tài liệu.
Tiền công:
- 4.800.000 đồng
Vì dưới 5 triệu đồng/lần, công ty không bắt buộc khấu trừ thuế.
Anh Bình nhận đủ:
4.800.000 đồng
Ví dụ 4: Dưới 5 triệu nhưng cá nhân yêu cầu khấu trừ
Vẫn là anh Bình ở ví dụ trên.
- Thu nhập: 4.800.000 đồng
- Anh Bình muốn có chứng từ khấu trừ thuế để quyết toán cuối năm nên đề nghị công ty khấu trừ 10%.
Khi đó:
- Thuế khấu trừ:
4.800.000 × 10% = 480.000 đồng
Anh Bình nhận:
4.320.000 đồng
Công ty cấp chứng từ khấu trừ thuế theo quy định.
Ví dụ 5: Người lao động đã nghỉ việc
Anh Hùng làm việc tại Công ty D và đã nghỉ việc.
Sau khi nghỉ, công ty trả:
- Tiền thưởng còn lại: 12.000.000 đồng
Mặc dù anh Hùng đã chấm dứt hợp đồng lao động, khoản thu nhập này vẫn thuộc trường hợp được quy định.
Vì mức chi trả ≥ 5 triệu đồng/lần, công ty phải khấu trừ:
12.000.000 × 10% = 1.200.000 đồng
Anh Hùng nhận:
10.800.000 đồng
Ví dụ 6: Chia thành nhiều lần thanh toán
Công ty E thuê một cộng tác viên, tổng tiền công là 12.000.000 đồng, thanh toán:
- Lần 1: 4.000.000 đồng
- Lần 2: 4.000.000 đồng
- Lần 3: 4.000.000 đồng
Theo nội dung bạn trích dẫn, ngưỡng được xét là “05 triệu đồng/lần chi trả”.
Do đó:
- Mỗi lần thanh toán đều dưới 5 triệu đồng.
- Không bắt buộc phải khấu trừ 10% ở từng lần trả (trừ khi cá nhân yêu cầu khấu trừ).
Tuy nhiên, nếu việc chia nhỏ nhiều lần chỉ nhằm né nghĩa vụ khấu trừ thuế, cơ quan thuế có thể xem xét bản chất của giao dịch khi thanh tra, kiểm tra. Vì vậy, doanh nghiệp không nên cố tình chia nhỏ các khoản thanh toán chỉ để tránh khấu trừ thuế.
Tóm tắt
| Mức chi trả mỗi lần | Có bắt buộc khấu trừ 10% không? |
|---|---|
| 4.000.000 đồng | Không (trừ khi cá nhân yêu cầu) |
| 4.900.000 đồng | Không (trừ khi cá nhân yêu cầu) |
| 5.000.000 đồng | Có |
| 7.500.000 đồng | Có |
| 20.000.000 đồng | Có |
Điểm quan trọng là ngưỡng 5 triệu đồng được xác định theo từng lần chi trả, không phải theo tổng thu nhập trong cả tháng hoặc cả năm, theo đúng nội dung của quy định mà bạn đã trích dẫn.
Để lại một bình luận